15:28 ICT Thứ bảy, 21/10/2017

Quy trình kỹ thuật

    Lượt truy cập

    Đang truy cậpĐang truy cập : 24


    Hôm nayHôm nay : 543

    Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10174

    Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3261153

    Sản Phẩm

      Liên kết

      Thương hiệu Việt
      Văn bản pháp lý

      Trang nhất » Tin Tức » Tin công nghệ

      Kháng sinh dùng trong chăn nuôi bò sữa – một ẩn họa lớn đang không được để tâm đúng mức ở nước ta

      Thứ tư - 25/05/2016 15:50

      Kháng sinh dùng trong chăn nuôi bò sữa – một ẩn họa lớn đang không được để tâm đúng mức ở nước ta

       

      Năm 2010, trên toàn cầu 63,2 ngàn tấn thuốc kháng sinh (TKS) – (trong tổng 100 ngàn tấn được sản xuất) – được sử dụng cho chăn nuôi. Và năm 2030, con số này ước tính sẽ là 106 ngàn. 2/3 số lượng này sẽ dành nuôi đàn vật nuôi đông lên và  phần còn lại để “thâm canh” chúng.

      Việc sử dụng TKS cho con người đã và đang đưa lại những tai vạ do lạm dụng – đúng như sự cảnh báo của  chínhAlexander Fleming, nhà bác học phát minh ra nó. Nhưng nếu chỉ nhìn vào số lượng TKS cho chăn nuôi không thôi và đặc biệt chúng được sử dụng đa phần là nông dân “ít kỹ thuật” ở các nước ngèo ta cảm thấy “vấn đề kháng sinh” còn nan giải hơn… Hơn thế tại đó TKS được sử dụng không chỉ để chửa bệnh mà còn phòng bệnh, thậm chí được trộn vào cám để hỗ trợ sinh trưởng cho vật nuôi.

       

      Một khi con vật được điều trị hoặc ép dùng TKS, thì sản phẩm của chúng là thịt sữa trứng vẫn tồn dư một lượng TKS sau một thời gian (tùy theo loại thuốc). Tác hại trực tiếp của dư lượng TKS trong thực phẩm đến người tiêu thụ là gây dị ứng (trường hợp penicilline), ung thư (trường hợp Carbadox /Mecadox thường được sử dụng để trị tiêu chảy và đã bị Anh, Úc cấm). Tác hại gián tiếp của nó là tạo ra những dòng vi khuẩn mới có khả năng kháng lại các thuốc đó trong cơ thể người, vật nuôi…. Và đến khi con người, con vật mắc bệnh đó sẽ không thể điều trị bằng thuốc cũ (hiện tượng này được gọi là “nhờn thuốc”) mà đòi hỏi thuốc tổng hợp cao cấp hơn, chống đồng thời nhiều loại vi khuẩn hơn, đắt hơn để bào chế…  Người ta đã phát hiện thí dụ như vi khuẩn salmonella kháng lại 4 thứ thuốc là  ampicilline, chloramphenicol, streptomycine, và tetracycline. Tác hại gián tiếp này nguy hiểm hơn, giai dẳng hơn và phức tạp hơn rất nhiều cho con người và cho vật nuôi.  Bởi 90% phần trăm của một liều TKS có thể được bài tiết trong nước tiểu và lên đến 75% trong phân và từ đó có thể  vào môi trường, sông suối, thậm chí nước ngầm… và từ đó có thể quay lại con người, con vật…

      TKS được sử dụng nhiều bao nhiêu thì cơ hội gia tăng hệ vi khuẩn kháng kháng sinh nhiều bấy nhiêu. Tại Mỹ  ước tính kháng kháng sinh làm hơn 2 triệu người nhiễm bệnh và  gây 23.000 ca tử vong mỗi năm tại nước này, với tốn thất 55 tỷ USD. Còn tại châu Âu, ước tính có khoảng 25.000 ca tử vong là do nhiễm trùng kháng TKS, trị giá 1,5 tỷ EUR. Tại Ấn độ khoảng 58.000 ca tử vong nhiễm trùng huyết sơ sinh là do nhiễm trùng kháng thuốc...

      Một số nghiên cứu về sử dụng TKS trong ngành chăn nuôi bò sữa thế giới: Tại Uganda, tụ cầu được phân lập từ gia súc nhiễm bệnh viêm vú cho thấy có sức đề kháng cao với penicillin và methicillin. Enterococcus được phân lập từ các loài vật nuôi khác nhau cho thấy sức kháng kháng sinh là 14- 65%, và tỷ lệ kháng đa thuốc là 60%. Ở Tanzania, kháng vi khuẩn gây viêm vú ở gia súc lấy sữa ở mức cao với penicillin G, chloramphenicol, streptomycin, và oxytetracycline. Tại Nepal vi khuẩn gây viêm vú cho bò kháng lại oxytetracycline, cotrimoxazole, and amoxicillin và ampicillin…

      Khống chế sử dụng TKS trên thế giới. Mỹ yêu cầu các nhà máy chế biến sữa của họ kiểm tra tất cả xe sữa nguyên liệu đối với mọi loại kháng sinh thông thường như penicillin, ampicillin, amoxicillin, cloxacillin, cephapirin và ceftiofur. Sữa có chứa kháng sinh đều bị loại và người chủ phải tự chịu thiệt – ước tính đến 15 000 USD. Hàng năm họ cũng tự kiểm tra 40 000 mẫu sữa lấy ở các điểm lẻ tẻ trong cả nước. Những người chăn nuôi phạm lỗi nhiều lần thậm chí có thể bị rút giấy phép kinh doanh..

      Tại các nước EU, việc kiểm soát dư lượng TKS trong sản phẩm thực đã được thực  hiện từ năm 2001.

      Tuy nhiên việc sử dụng TKS để hỗ trợ tăng trưởng cho vật nuôi, lại khác nhau: cấm hẳn tại  EU, New Zeland, Hàn quốc; chỉ cấm một số (avoparcin, virginiamycin…) tại Australia; khuyến khích không dùng ở  Canada , Mỹ  và không cấm ở Nhật và Mexico.

      Với sự quyết liệt chống lại việc lạm dụng quá TKS, trên thế giới một số nước đã có những thành công lớn. Thí dụ như năm 2012 Mỹ đã kiểm trả dư lượng của 31 loại thuốc họ kháng sinh trong sữa được sản xuất ở khoảng 2.000 trang trại bò sữa và nhận được kết quả là chưa đầy 1% số mẫu sữa dương tính.

      Tại Việt nam: Một số  nghiên cứu cũng đã được tiến hành, thí dụ: Nguyễn Thị Hoa Lý (2002) phát hiện rằng người chăn nuôi phải trộn TKS liên tục vào thức ăn, nước uống để hạn chế sự phát triển của các loại vi trùng gây bệnh.  Nhà khoa học này cũng thấy rằng 32,61% trại được điều tra sử dụng dùng sai loại thuốc, không đúng liều quy định; 44,54% không ngưng thuốc đúng quy định. Các loại TKS được dùng phổ biến là pencillin và streptomycin, lincomycin, tetracyclin, chloramphenicol, furazolidon (đã bị cấm) để điều trị các bệnh cho bò.

      Nguyễn Văn Minh năm 2010 trên đàn bò sữa của  các huyện Lập Thạch,  Yên Lạc, Vĩnh Tường (Vĩnh phúc) phát hiện tồn dư penicillin theo thứ tự  24 mẫu trong 37 và tetracyclin là 7 trong 25.

      Một số người cho rằng nếu nấu lên thì tồn dư kháng sinh có thể giảm, nhưng thực tế, ngược lại chúng có thể vỡ ra các thành phần mà có khi còn hại hơn.

      Trong nước mới chỉ tập trung ở lĩnh vực thủy sản xuất khẩu do đòi hỏi của đối tác... TCVN 7405:2004 mới có khuyến cáo cần có kiểm soát dư lượng CAP trong sữa nguyên liệu. Một số doanh nghiệp nước ngoài như Nestlé VN đã xử lý vấn đề này, tăng thêm 30% chi phí để mua sữa của nông dân với yêu cầu sữa không có dư lượng kháng sinh.

      Suy nghĩ về cách thức hạn chế ở VN:

      Trong chăn nuôi: Những bệnh thường xuyên xẩy ra đối với đàn bò vắt sữa ở nước ta là: Viêm vú, viêm tử cung, chân móng, tiêu chảy – và đòi hỏi chửa trị bằng TKS.  Điều trị các bệnh này cần đúng quy trình: đúng thuốc / liều lượng / thời gian. Điều này ở các công ty lớn như CT Sữa TH hoặc VINAMILK, hoặc các doanh nghiệp nước ngoài như NESTLE… không đáng ngại. Tuy nhiên tại khu vực nông dân – trừ một số nơi được quản lý chặt chẽ như CT Giống Bò sữa Mộc châu – thì những quy trình sử dụng TKS khó đảm bảo.

      Thậm chí họ cũng trộn TKS vào thức ăn. Chúng ta chưa có những điều tra liệu thức ăn – đặc biệt là ở khu vực nông dân. Nên theo tiêu chuẩn EU để cấm hẳn.

      Cần tổ chức lại trang trại chăn nuôi đặc biệt khu vực nông dân sao cho môi trường chăn nuôi, vắt sữa sạch sẽ đảm bảo tối đa vệ sinh để giảm viêm vú đến mức thấp nhất. Tạo các xác định tế bào soma để phát hiện sớm bệnh viêm vú. Đây là một nan giải của nông dân khi chuồng trại nuôi bò của họ không được như các công ty lớn do đầu tư đắt.

      Những công việc trên nên nhờ các công ty chăn nuôi bò sữa lớn hỗ trợ thậm chí kiểm soát một khi sữa được bán cho họ. Cần tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các công ty với nông dân. Hiện tại đây cũng là vấn đề lớn. Khi được giá thì nông dân không bán sữa cho nhà chế biến, hoặc khi sữa bột nhập về rẻ một số công ty lại không muốn mua sữa của dân vốn dĩ đắt hơn và chất lượng nhiều lúc không đảm bảo (đển 20-30% sữa của nông dân không đạt tiêu chuẩn). Một trong những mắt xích quan trọng đó là việc công bố bản chất nguyên liệu: phẩm sữa tươi thực sự - hay là sữa bột pha lại. Vấn đề này được đưa ra từ 2005 nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện. Nông dân nuôi bò cũng như những công ty chăn nuôi bò như TH… chịu thiệt thòi do sữa của họ là sữa thật phải đối chọi với sữa bột pha nhưng gián mác sữa tươi - mà không ít công ty sữa đã dùng để hạ giá thành.

      Tại thị trường VN cũng đã có những máy phát hiện nhanh dư lượng TKS, có nghiên cứu ứng dụng công nghệ nano vào việc này. Một vài nghiên cứu cũng được tiến hành tại khu vực nông dân.

      Xa hơn nữa, đó là chọn, tạo giống bò phù hợp với môi trường nóng ẩm và điều kiện chăn nuôi thấp của VN. Hiện nay đàn bò sữa VN là bò Holstein Friz Mỹ, Australia, New Zeland. NZ… gốc ôn đới, được nuôi trong môi trường tốt, năng suất cao. Tại VN chúng mắc khá nhiều bệnh tật... Và đương nhiên để điều trị thuốc kháng sinh dùng cũng lắm. Cần có cách nhìn mới để chọn giống cũng như tạo nên giống phù hợp. Thí dụ có thể nuôi bò Jersey – một giống bò chịu nhiệt tốt hơn và năng suất cũng cao; hoặc tạo một đàn bò đực trong nước thay vì vẫn nhập bò đực (tinh, phôi) từ các nước ôn đới. 

      Về Quản lý nhà nước:  Ban hành luật về kháng sinh trong sữa, sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi. Tài chế (phạt). Thiết lập hệ thống kiểm tra: Nhanh, bất ngờ, thiết bị bằng công cụ nhanh và phòng thí nghiệm.

      Tư vấn và đào tạo nông dân hiểu biết về các vấn đề kháng sinh, chăn nuôi. Cần theo dõi thường xuyên các loại TKS được dùng tại VN cho bò sữa.

      Nhà nước VN phải đưa ra tiêu chuẩn sữa nhập vào và nên đưa ra danh sách những nước có ngành chăn nuôi và chế biến sữa an toàn bởi vì như trên đã nói, dư lượng TKS có thể không được phát hiện sau khi nhiệt phân, mà phân rã thành những thành phần còn nguy hiểm hơn cho sức khẻo con người.

      Võ Văn Sự tổng hợp

      TS Võ Văn Sự (Hội Chăn nuôi VN). Tư liệu dùng để biên soạn có ở tác giả, nếu cần xin liên hệ: Vovansu.vcn@gmail.com

       

      Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
      Click để đánh giá bài viết
      Từ khóa: n/a

      Những tin mới hơn

      Những tin cũ hơn

       

      Giới thiệu

      Giới thiệu về Công ty Tam Nông

      Giới thiệu về Công ty Tam Nông CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TAM NÔNG PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN VÀ NÔNG THÔN Địa chỉ Trụ sở chính : 1C11 KDC Nam Long, KP 3A - Hà Huy Giáp - P. Thạnh Lộc - Quận 12 Điện thoại : 0907331580 - 0903809944    1. THỰC HIỆN TRIỂN...

      Quảng cáo

      Đất sinh học Sagođa
      N200 pro
      ga choi lai
      men vi sinh hoạt tính
      balasa NO 1